Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 11 / Bình giảng bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương

Bình giảng bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương

(Baivanhay.net) – Anh(chị) hãy bình giảng bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương trong sách ngữ văn lớp 11

Đề bài : Bình giảng bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương

Tế Xương quả thật là nhà thơ trào phúng tiêu biểu của phong trào thơ ca Việt Nam, thơ ông mang những nét riêng biệt, để khi người ta nhắc tới thơ ông đều phải suy ngẫm. Tế Xương cũng có nhiều bài thơ viết với giọng điệu mỉa mai có khi là mỉa mai chính bản thân mình. Thương vợ là một trong những bài thơ đặc sắc , gợi lên tình cảm của tác giả dành cho vợ nhưng cũng là cái chua xót về bản thân không làm được gì nên trò trống để đỡ đần cho vợ.

Những câu thơ đầu giống như một lời giới thiệu về hoàn cảnh của người vợ, sự khổ sở khó khăn của người vợ, quanh năm luôn cố gắng làm mọi thứ để nuôi sống cho cả gia đình.hình ảnh đó hiện ra với vẻ tảo tần chịu thương chịu khó của bà Tú.Hai câu thơ mở đầu Trần Tế Xương đã kể lên những nỗi vất vả của người vợ thương yêu của mình. Đó là sự vất vả được hiện lên và mục đích của công việc ấy:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông, 
Nuôi đủ năm con với một chồng”

Cũng giống như những người phụ nữ khác, bà tú là một người phụ nữ hết lòng vì chồng vì con, bà làm mọi thứ để cả nhà có một cuộc sống đầm ấm no đủ.Hình ảnh người vợ của Trần Tế Xương hiện lên giống như những người phụ nữ trong hình dáng người phụ nữ ngày xưa với cái nghề buôn bán. Chúng ta có thể hình dung ra hình ảnh của một người với tấm áo giản dị, trên doi vai của mình nặng gánh đang trên đường đi tới chợ. Người vợ của nhà thơ hiện lên cũng với hình ảnh ấy đặc biệt rằng công việc ấy được diễn ra thường xuyên qua hai từ “quanh năm”. 2 từ mom sông là địa điểm không phải trên những mặt đất bằng phẳng mà lại ở mom sông gợi sự vất vả, nguy hiểm.  Như vậy vợ nhà thơ là một người không những vất vả mà còn phải đối mặt với nguy hiểm. Bà Tú làm như nuôi bản thân mình mà bà Tú còn phải nuôi đủ” năm con với một chồng”. Giọng thơ trào phúng xuất hiện ở đây, khi mà ông tự cho rằng chính ông cũng trở thành gánh nặng cho vợ mình. Giờ đây quang gánh kia không chỉ đơn giản là những mặt hàng của bà nữa mà trên đó còn có cả năm con với một người chồng.

Sang hai câu thơ tiếp theo người chồng gánh nặng kia lại tiếp tục thể hiện lòng thương vợ của mình và những vất vả mà bà Tú phải trải qua hàng ngày:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng, 
Eo sèo mặt nước buổi đò đông. ”

Loading...

Không dừng lại ở những hiểm nguy mà bà Tú phải chịu ,phải đối mặt. Hình ảnh bà hiện ra với một hình ảnh thường thấy trong các câu ca dao tục ngữ. Giồng như thân cò lặn lội trên những quãng vắng để kiếm thức ăn cho các con của mình. Hình ảnh con cò trong câu ca dao xưa tượng trưng cho người phụ nữ nghèo khổ vất vả lại được nhà thơ sử dụng trong bài thơ của mình. Không biết  rằng có biết bao nhiêu những khó khăn và nguy hiểm đang rình dập và nuốt lấy vợ mình. “ 4 từ eo sèo mặt nước gợi ra cảnh chợ ở mom sông tấp nập nhưng vì cuộc sống mưu sinh nên cũng giằng co mặc cả, tất cả chỉ là để có thêm chút ít cho gia đình.Và rồi nhà thơ nói đến duyên phận của mình với vợ và như thay lời nói lên cái thở dài một người chồng mà lại gánh nặng như một người con thứ sau trong nhà:

“Một duyên, hai nợ, âu đành phận, 
Năm nắng, mười mưa, dám quản công. ”

Chính vì bà Tú lại có duyên có cả nợ với nhà thơ nên mới chịu cảnh khó khăn khổ cực như thế. Một chữ duyên, hai chữ nợ, thôi thì đành phận với nhau. Và sự vất vả ấy cứ theo bà tú suốt quanh năm suốt tháng “năm nắng, mười mưa”, câu thơ ấy như gợi lên sự khó nhọc mà trong ca dao cũng nhắc đến như “ một nắng hai sương”. Thế nhưng Bà Tú còn hiện lên đẹp hơn khi không quản công gánh nặng ấy, bởi chính bà là người thương chồng thương con và hi sinh cho chồng con mà không một lời than vãn. 

 

binh-giang-bai-tho-thuong-vo-cua-tran-te-xuong


Nhưng chính sự không than vãn và đức hi sinh ấy khiến cho nhà thơ không thể nào yên lòng được. Câu thơ như một lời thốt lên đầy thất vọng , về chính bản thân mình không thể làm gì trước cảnh vợ phải khổ sở vì mình

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc: 
Có chồng hờ hững cũng như không!”

Một tiếng cười một tiếng mỉa mai bản thân mà tác giả đang chỉ tới bản thân mình xuất hiện một cách rõ ràng ở cuối bài thơ. Nhưng chính vì thương vợ nên không làm sao mà tác giả đứng im để mãi trong lòng sự khổ tâm ấy được.. Tác giả tự tháy bản thân mình ăn ở bạc không thể giúp đỡ được gì cho người vợ chân yếu tay mềm hơn minh rất nhiều. Qua bức tranh về người vợ quanh năm cơ cực hết lòng hi sinh vì chồng vì con hiện ra. Bài thơ như một lời tâm sự,một lời thủ thỉ nên tình cảm mà ông dành cho vợ lại sâu lắng và dễ đi vào lòng người.. Đặc biệt bản thân ông ý thức rõ được sự vô dụng của mình mà tự thấy xấu hổ mà tự chửi chính mình. Dù thế nào đi nữa chúng ta vẫn dành một sự cảm thông cho cả tác giả và người vợ tảo tần , họ là những người đáng yêu và đáng quý.

Loading...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *