Home / VĂN MẪU THPT / Văn mẫu lớp 12 / Phân tích tác phẩm vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

Phân tích tác phẩm vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

Phân tích tác phẩm vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

Bài làm

"Những người đói họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống" đó là những gì nhà văn Kim Lân đã nói về chuyện "Vợ nhặt". Nạn đói đã đi vào lịch sử năm 1945 có lẽ đã khắc sâu vào tâm trí của nhà văn Kim Lân, nên khi hòa bình trở lại Kim Lân đã cho ra đời chuyện 'Vợ nhặt" vào năm 1954. Đây là tác phẩm ưu tú của nhà văn Kim Lân, viết về cuộc sống nghèo đói, cùng cực của người nông dân nghèo và khát khao hạnh phúc, niềm hi vọng một mái ấm gia đình của nông dân Việt Nam trong cái đói đến cùng cực. Tác giả cũng bày tỏ sự đồng cảm chia sẻ với những con người bất hạnh, đói khổ trong thời chiến và đồng thời ông cũng thắp lên niềm tương lai tươi sáng qua những ngôn ngữ, hình ảnh dung dị đời thường và chân thực nhất, từ đó tạo nên sự đồng cảm và suy nghĩ trong lòng người đọc.

avatar-nhan-vat-thi

Phân tích tác phẩm vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

Với những gì Kim Lân để lại cho nền văn học Việt Nam,ông xứng đáng là một nhà văn để mọi thế hệ được biết đến qua những tác phẩm giàu tính nhân văn, và cho tới nay vẫn còn nguyên giá trị văn học. Nét đặc trưng của bút pháp của ông chính là viết về những hình ảnh những câu chuyện đời thương giản dị, chân thực nhưng ẩn chứa nhiều triết lí nhân văn. Tình huống truyện trong các tác phẩm của Kim Lân đem đến cho độc giả những cái nhìn thực tế về cuộc sống đặc biệt là thời kì nhân dân ra rơi vào bế tắc cùng cực. "Vợ nhặt" không chỉ là kiệt tác của văn học, mà còn là kiệt tác của lịch sử, kiệt tác của nạn đúng khủng khiếp ấy.

"Vợ nhặt" cái tên thật đỗi buồn cười, ngay từ cái nhan đề đã gây cho người ta cái thú tò mò, vì cha ông ta đã có câu "tậu trâu, tậu vợ,tậu nhà. Ba cái đó thật là khó lo". Ấy vậy, mà ở đây Kim Lân còn đặt tựa đề là "Vợ nhặt" ắt hẳn trong đây có gì đó không đúng rồi, và đây cũng là nút thắt lớn nhất làm nên câu chuyện. Tên truyện đã gây tò mò, vậy bắt đầu của câu chuyện sẽ ra sao? " Tràng đi làm về, hắn bước ngật ngưỡng, vừa đi vưa tủm tỉm cười, hai con mắt hỏ tí, hai quai hàm bạnh ra,…" một loạt cái hình ảnh miêu tả, giới thiệu về anh cu Tràng hiện ra. Tràng của Kim Lân có nét gì đó giống với Chí Phèo của Nam Cao. Có lẽ họ cùng là những con người của xã hội phong kiến đều bị thực dân phong kiến chèn ép. Qua hình ảnh khắc họa về Tràng thì người đọc hoang mang đến tột độ, tại sao vợ nhặt mà lại bắt đầu bằng một anh chàng dở hơi, xấu xí, nghèo rách mùng tơi. Đến đoạn tiếp theo người ta không thấy hào hứng nữa mà thấy buồn lòng vì từ ngày nạn đói hoành hành đám trẻ con không còn trêu Tràng nữa, có lẽ cái đói đã bao trùm trong thể xác cũng như tâm hồn chúng. Trong khung cảnh chiều tà, Tràng lại hiện lên với hình ảnh mệt mỏi,lo lắng cùng cực, có lẽ hắn lo lắng cái đói cũng sắp đến với chính mình. Với những câu từ dung dị Kim Lân đã vẽ lên khung cảnh xơ xác, bộn bề khi bị cái đói hoành hành. Dường như Kim Lân đã vẽ nên một nét bút tuyệt vời khi trong khung cảnh đói khổ hoành hành ấy, Tràng lại đột nhiên có vợ. Vợ của Tràng không phải cưới về, không phải đi xin về, không phải đi mua về, mà là Tràng nhặt được về. Anh cu Tràng chỉ với vài câu “tầm phơ tầm phào” mà có người phụ nũ theo về làm vợ. "Nhặt" Kim Lân đã dùng từ nhặt để cho người ta thấy cái mạng người nó rẻ mạt như thế nào. Người đọc cũng phần nào hiểu thêm được về sự u ám, thê thảm của con người trong cái đói khổ đến tột cùng ấy.

Loading...

Sau những hình ảnh miêu tả về anh cu Tràng thì vợ anh cu Tràng dần hiện ra, “ thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén,e thẹn”.  Có thể nói cái tên thôi cũng đã hiện ra hình ảnh con người, Thị một cái tên vô chủ để phân biệt giữa nam và nữ. Kim Lân thật khéo se duyên, se giữa một người đàn bà không lối thoát với một người đàn ông cũng sắp đi vào thảm cảnh, đúng là trời sinh một cặp.

download

Phân tích tác phẩm vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

Khi người ta rước dâu về, thì không khí vui tươi, rộn ràng khắp xóm làng, đằng này Tràng đưa vợ về thì  “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt. Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Chỉ mới đọc thôi đã thấy rùng mình, nó thật giống với miêu tả một đáng tang, hơn một đám cưới. Thậm chí trong đámtang của cụ cố Hồng trong tác phẩm "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng, nó còn náo nhiệt hơn nhiều, có kèn Tây, kèn ta. Chỉ vậy thôi người ta cũng đã thấy thảm cảnh của cuộc hôn nhân này, liệu cuộc đời họ sẽ đi về đâu. Với  ngòi bút tả thực sinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đong.

Nhà văn Kim Lân đã thật tài tình khi đi sâu phân tích tâm lý đan xen, phức tạp của từng nhân vật trước tình huống Tràng “nhặt” được vợ. Người trong xóm “xì xào bàn tán”, người thì “cười lên rung rúc”, người lại lo giùm cho anh ta: “Ôi chao! Giời đất này còn lôi cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau qua cái thì này không?”.  Chính vì Tràng lấy vợ nên mới tạo ra cái lạ cho người dân ở đay và tạo ra cái lạ của câu chuyện. Tình huống truyện đã cho thấy thân phận buồn tụi của người lao động nghèo và bộc lộ tấm lòng người nông dân trong cảnh đời cơ hàn đói khát: giàu tình nghĩa và luôn khát khao hạnh phúc, mái ấm gia đình.

Điều đặc biệt của câu chuyện là diễn biến tâm lý của nhân vật bà cụ Tứ. Khi Tràng về muộn thì lo lắng, thấy TRàng dẫn cô gái lạ về thì tò mò, khi biết đó là vợ của con mình thì mừng, rồi tủi, rồi xót thương… một loạt các diễn biến tâm lý khác nhau. Đây được xem như một các kể chuyện độc đáo của Kim Lân, tạo lên nét hay, nét đặc sắc cho câu chuyện. Ở người đàn bà già nua, nghèo khổ này chứa đựng những nét đạo lí cổ truyền của dân tộc. Bà cố gắng xua đi cái ám ảnh đen tối đáng sợ của thực tại, nhen nhúm niềm tin, niềm vui sống cho các con. Trong cái thân hình khẳng khiu, tàn tạ vì đói khát ấy vẫn nung nấu một ý chí mãnh liệt.

Từ khi cưới vợ cuộc sống của gia đình Tràng thay đổi hẳn, bà cụ Tứ thì vui vẻ chuẩn bị bữa cơm đón con dâu, Tràng ngủ dậy thì thấy thêm yêu cuộc đời hơn, đặc biệt là khung cảnh nhà cửa thay đổi, có bàn tay Thị nhà cửa gọn gàng hơn. Tất cả mọi thứ thật yên bình như khởi đầu cuộc sống mới. Bữa cơm cũng thịnh soạn hơn mọi ngày, giữa cái mẹt rách có đĩa rau chuối thái, có nồi cháo loãng, đặc biệt có món chè khoán. Nhắc đến chè người ta sẽ nghĩ đến vị ngọt thanh mát, nhưng chè cụ của cụ Tứ lại chát xít vì được nấu từ cám gạo. Trong bữa cơm vui vẻ ấy cụ Tứ đã vẽ nên một tương lai tươi sáng, một tương lai rất cụ thể thiết thực với những gà, lợn, ruộng, vườn, … một tương lai khiến các con tin tưởng bởi nó không quá xa vời. Kim Lân đã khám phá ra một nét độc đáo khi để cho một bà cụ cập kề miệng lỗ nói nhiều với đôi trẻ về ngày mai.

Truyện Vợ nhặt tiêu biểu cho phong cách viết độc đáo của nhà văn Kim Lân. Cốt truyện đơn giản nhưng chặt chẽ. Trong truyện, người và cảnh đan xen, tương phản với nhau. Bản chất đẹp đẽ bên trong tương phản với vẻ xấu xí bên ngoài, sự sống tương phản với cái chết… Tất cả đều nhằm mục đích làm nổi bật chủ đề của truyện. Tác giả không miêu tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ mà chú trọng đến việc thể hiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xác xơ vì đói khát của những người nghèo khổ

Loading...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *